Hình ảnh đức phật thành đạo

Theo sử liệu ghi: Khi một vị Phật ra đời độ sinh luôn "thị hiện" tám tướng thành đạo (bao gồm: giáng Đâu suất tướng..., đến Niết bàn tướng). Điều này xem như một chứng thực cho một đức Phật - bậc Giác ngộ ở hai phạm trù thế gian và siêu việt (xuất) thế gian.

Bạn đang xem: Hình ảnh đức phật thành đạo

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một vị Phật lịch sử. Ngài sinh năm 624 trước Công Nguyên tại vườn Lâm Tỳ Ni, Nepal, nhập Niết Bàn năm 544 trước Công Nguyên tại Câu-Thi-Na (Kusinagara), Ấn Độ, thọ 80 tuổi.

Đức Phật Thích Ca thị hiện thành Phật ở cõi Ta-bà (dương gian), từ lúc đản sinh cho đến ngày nhập diệt niết bàn đã thị hiện viên tròn đủ tám tướng trọng đại. Điều này được ghi chép chân thực trong kho tàng sử liệu Phật giáo.


1. Đức Phật Thích Ca trong tướng thành đạo thứ nhất: “giáng Đâu-suất tướng”:

*Từ cõi trời Đâu Suất Đức Phật giáng sinh:

Như Đức Nhiên Đăng Cổ Phật (là vị Cổ Phật xuất hiện trước thời Phật Thích Ca) huyền ký: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ đản sinh vào cõi người để ban trải giáo Pháp về con đường giải thoát khỏi vòng luân hồi đau khổ.

Trước khi hạ sinh vào cõi Ta bà - thế giới loài người, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni an trụ ở cung trời Đâu Suất (Gadhen Lhayul, cõi Trời Hỷ Lạc), sống trong cảnh giới vô cùng an vui, thanh tịnh.

*
(Bồ tát Hộ Minh từ cung trời Đâu Suất giáng trần, nhập thai mẹ trong hình tướng Voi trắng sáu ngà)


Ở đây, Ngài có Hồng danh là Bồ tát Hộ Minh (tiếng Tạng là Lhayi DampaTogkarpo) và Ngài thường giảng pháp giáo hóa chư Thiên. Ngài được tôn vinh là bậc Nhiếp Chính của Đức Phật Ca Diếp đời trước.

Cung trời Đâu Suất là cõi Tịnh độ nơi Đức Phật tương lai - Phật Di Lặc, hiện là bậc Thiên chủ đang thuyết Pháp. Đó là một trong sáu cõi Dục giới của chư Thiên, cũng là nơi an trú của chư vị Bồ Tát…


2. Tướng thành đạo thứ hai: Đại Bồ tát nhập thai mẹ trong hình tướng Voi trắng sáu ngà

Đêm kia, hoàng hậu Ma Da nằm mộng thấy một con voi trắng sáu ngà ôm bó hoa sen hương thơm ngào ngạt giáng nhập vào bào thai của bà. Các thầy Bà la môn tinh thông điềm triệu tiên đoán là hoàng hậu đã thọ thai một nhân cách phi phàm, cao cả; là linh khí kết tụ của núi sông, nhật nguyệt muôn triệu năm mới có một lần.

Đại bồ-tát từ khi vào lòng Phật mẫu, gá thai bào, lần lần lớn lên, không hề làm cho hoàng hậu khó chịu; trái lại, được sức khỏe, an vui và mát mẻ hơn. Thai nhi ngồi an nhiên ở trong bụng như một bức tượng vàng trong động báu, chân xếp kiết già, hướng mặt ra phía trước rất khác với phàm nhân.


3. Tướng thành đạo thứ ba: Đức Phật đản sinh: 7 bước đi sen nở

Đại Bồ tát đản sinh vào giờ phút đẹp đẽ linh thiêng ngày trăng tròn tháng Vesak (rằm tháng tư). Ngài ra khỏi lòng mẹ nhẹ nhàng như một vị pháp sư duỗi chân bước xuống pháp tòa.

Vừa chào đời, Đại Bồ tát đã xuất thần đứng dậy, đi về hướng Đông bảy bước, dưới đất trồi lên bảy hoa sen đỡ bước chân ngài, có hai vị chư thiên bưng năm món triều phục của Chuyển luân Thánh vương đi hầu hai bên. Đại Bồ tát một tay chỉ thượng, một tay chỉ hạ, nói lên câu kệ:

*

(Bảy bước đi sen nở, Ngài ra khỏi lòng mẹ nhẹ nhàng như một Pháp sư bước xuống Pháp tòa)


“Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn - (ý nghĩa: trên trời, dưới trời, chỉ có ta là tôn quý nhất). Đây là kiếp cuối cùng, không còn phải tái sinh ở đời sau bởi vì ta đã đoạn tận nguồn gốc của luân hồi sinh tử”.

*Thời Đức Phật đản sinh còn có 7 nhân vật đồng sinh để trợ duyên cho Đại Bồ tát:

Công chúa Yasodharā (Da Du Đà La); Ānanda (A Nan), con hoàng thân Amitodana, em ruột đức vua Suddhodana. Channa (Xa Nặc) - người hầu ngựa; Kāḷudāyi - con một lão thần lương đống, sau này thỉnh đức Đại Giác về thăm Kapilavatthu; Ngựa Kaṇṭhaka (Kiền Trắc); Cây Bồ đề - nơi Phật ngồi thành đạo; Bốn hầm châu ngọc.

Do túc duyên B-la-mật từ nhiều a-tăng-kỳ kiếp, bảy nhân vật đồng sinh để trợ duyên cho quả vị Chính Đẳng Giác.


4. Tướng thành đạo thứ 4: Xuất gia tướng

Ngay khi vừa chào đời, bậc ấu hoàng đã hội đầy đủ 32 quý tướng và 80 vẻ đẹp của bậc Tối Thượng Nhân. Tướng cách của ấu hoàng vượt xa tướng cách của các bậc Đế vương, vượt xa cả Chuyển luân Thánh vương…

“Đức ấu nhi này sẽ xuất gia, ba mươi lăm năm sau sẽ đắc quả vị Chánh Đẳng Giác không sai!” - lời tiên tri của đạo sĩ Asita (A-tư-đà) vốn là bậc lão thông điềm triệu, tướng pháp, lại có cả bát định và ngũ thông (bậc đạo sĩ đắc thiền và có thần thông).

Trong tương lai, ấu hoàng sẽ đắc thành quả Phật, một vị đại A-la-hán toàn bích. Chúng sinh vạn loài sẽ nương nhờ giáo pháp của đức Đại Giác ấy mà thoát khổ được vui, được đến cõi miền chân phúc và tự do…

Hội đồng bác học 108 vị Bà-la-môn cũng đưa ra lời tiên đoán trùng khớp trong lễ chiêm tướng (khi ấu hoàng vừa sinh được 5 ngày tuổi).

Nhằm đêm mồng 8 tháng 2 âm lịch, Thái tử Cồ Đàm từ bỏ tất cả, phụ vương, ngai vàng, vợ con, cuộc sống đầy đủ và êm ấm của một hoàng tử, khoác trên mình bộ áo màu vàng đơn giản của người tu sĩ, từ nay bắt đầu cuộc sống không nhà của người xuất gia cầu đạo. Khi đó Ngài mới 19 tuổi.


*
(Kiếm trí huệcắt bỏ mái tóc vương quyền)

5. Tướng thành đạo thứ 5: Đức Phật chiến thắng ngũ ma- (Hàng ma tướng):

Trong đêm thành Đạo của Đức Phật, khi đó có đủ các loại nội ma như ma sân giận, ma tham ái, ma si mê danh vọng, … xuất hiện. Gọi là ma nhưng đó không phải là ma bên ngoài mà chính là trạng thái tâm của người trước khi thành đạo - đó là ý nghĩa của chữ “ma vương” trong Phật giáo.

*Ma vương có 5 loại:

Phiền não maNgũ uẩn maPháp hành maTử diệt maChư thiên ma

Cả năm thứ ma trên đều làm trở ngại cho tiến trình giác ngộ. Vì vậy, hễ chiến thắng được ngũ ma, nhất là ma phiền não là đã thành công trong cứu cánh giải thoát.

Xem thêm: Hứa Vĩ Văn Và Người Yêu - Hứa Vĩ Văn Và Cuộc Sống Độc Thân Ở Tuổi 41

Khi nói đến Đức Phật cảm thắng Ma vương, nhiều người tưởng tượng ra hình ảnh quỷ sứ sừng nhọn, răng nanh, đầu trâu, mặt ngựa, vô cùng khủng khiếp kéo đến bao vây Ngài và Ngài cũng dùng phép thần thông để chống cự; sau một hồi chiến đấu cam go bằng quyền phép nhiệm mầu, Ngài đã hàng phục Ma quân một cách vẻ vang oanh liệt. Chữ Ma vương theo nghĩa Phật giáo, không phải chỉ có nghĩa giản dị như thế.

Chủ trương của Đức Phật là chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ bằng chính những đức độ cao dày mà Ngài tu tập trong vô lượng kiếp. Đức Phật không hàng phục Ma vương bằng thần thông quảng đại mà bằng Ba La Mật lực của Ngài. Sức mạnh Ba La Mật chính là những đặc tính: bố thí, trì giới, xuất gia (ly dục), tinh tấn, trí tuệ, nhẫn nại, cương quyết, chân thật, tâm từ và tâm xả (10 Ba la mật - Hành thập thiện)

Đức Phật hiếm khi dùng đến phép thần thông, vì Ngài không muốn môn đệ hay kẻ ngoại đạo quy y, tu học vì quyền phép nhiệm mầu mà họ phải đến với Phật vì lý tưởng giải thoát.


6.Tướng thành đạo thứ 6: Tiến trình chứng ngộ trong đêm Phật thành đạo:


*

Đức Phật đã kể lại cho gia chủ Tapussa và tôn giả A-nan về tiến trình chứng ngộ trong đêm thành đạo (Tăng chi bộ kinh III, phẩm IX pháp):

Đó là 9 cấp bậc thiền chứng từ sơ thiền cho đến diệt thọ tưởng định, gọi là 9 cấp bậc thiền chứng theo thứ lớp (bao gồm tứ thiền, tứ không và diệt thọ tưởng định).

Đức Phật còn xác quyết rằng chỉ sau khi chứng đạt và xuất khởi 9 cấp độ thiền chứng này, Ngài thấy bằng trí tuệ mọi lậu hoặc bị đoạn diệt, khi đó Ngài mới thành tựu Chính đẳng chính giác. Theo kinh ghi lại: khả năng “thấy bằng trí tuệ” này chính là Tam minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh.

*Túc mạng Minh: hướng tâm về Tuệ giác Đức Phật thấy rõ:

Các chiều không gian; đời quá hiện khứ vị lai; tiến trình sinh tử luân hồi của vạn loại…

Sau 49 ngày đêm, chuyên sâu vào thiền quán, tu tập tâm ly dục, ly ác pháp, đức Thích-Ca chiến thắng nội chướng lẫn ngoại ma, nào tham luyến, dục vọng, phiền não, sân hận, đói khát, cô đơn v.v...luôn hiện đến quấy nhiễu.

Đêm cuối cùng, vào lúc canh một, Ngài hướng tâm về Tuệ giác, nhớ lại những kiếp quá khứ, từ một kiếp, hai kiếp, ba kiếp đến trăm ngàn muôn ức kiếp. Hoặc ở thế giới này hay thế giới khác, hoặc ở quốc độ này hay quốc độ khác, hoặc ở gia đình này hay gia đình khác, hoặc mang thân này hay thọ thân khác..

Ngài cũng thấy như vậy với tất cả những loài sinh ra từ thai, loài sinh ra từ trứng, loài sinh từ nơi ẩm ướt và loài sinh từ phân thân biến hóa. Thấu rõ thân này vốn không có thực, vốn không có nguồn, vô thỉ vô chung, không từ đâu đến, không đi về đâu.

Cũng như sao mai ở bất kỳ thời gian nào cũng luôn hiện diện ở vị trí đó, không lặn cũng không lên, không hiện cũng không ẩn. Ẩn hiện là do vô minh bất giác mà bày ra sự phân biệt tối sáng. Mặt thật xưa nay hiện tiền, không trụ chấp, không vướng mắc, không đầu không cuối, cũng chẳng phải không đầu, không cuối. Chỉ vì động dụng nên cứ nghĩ rằng những gì ta nhận thấy có sự dời đổi là có đến có đi. Như thế Ngài đã chứng được Túc mạng Minh.

*Thiên nhãn Minh: Vô minh diệt, minh sinh; tối tăm diệt, ánh sáng sinh.

Đức Phật soi rõ thấy sự sống và chết của chúng sinh. Ngài thấu tỏ sinh mệnh của từng chúng sinh: người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của bản thân người đó.

Đức Phật thấy biết rõ vô lượng vô số thế giới từng co giãn sinh ra, hình thành, biến hoại và hủy diệt. Thấy tất cả chúng sinh từng sinh ra, hình thành, biến hoại và hủy diệt trong vô lượng vô số kiếp.

Nhưng đó chỉ là những biểu hiện duyên khởi bề ngoài chứ không hề hấn gì tới thực tướng của pháp giới. Ví như hằng triệu đợt sóng lô nhô trên mặt biển cả, nhưng lòng đại dương không vì có những hiện tượng như thế mà sinh diệt, diệt sinh. Đạt đến đó, Ngài chứng được Thiên nhãn Minh.

*Lậu tận Minh: Đức Phật thấu tỏ cội nguồn các pháp; đạt giải thoát khỏi luân hồi sinh tử

– Đây là phiền não, ô nhiễm, khổ đau.

– Đây là nguyên nhân tập khí gây ra phiền não, ô nhiễm, khổ đau:

– Đây là sự chấm dứt phiền não, ô nhiễm, khổ đau.

– Đây là phương pháp dẫn đến sự chấm dứt phiền não, ô nhiễm, khổ đau.

Quán chiếu như thế, tâm Ngài hoàn toàn giải thoát khỏi Dục lậu (ô nhiễm của dục vọng), Hữu lậu (ô nhiễm sự luyến ái của đời sống) và Vô minh lậu (ô nhiễm của vô minh), dứt hẳn sinh tử luân hồi, khổ đau vạn kiếp. Đạt đến đó Ngài chứng được Lậu tận Minh.

Ngài thấu rõ Khổ tướng hiện tại, đoạn mọi phiền não lậu hoặc dứt khổ sinh tử, an vui giải thoát. Thấy rõ mầm mống của phiền não và sinh tử. Chuyển phiền não thành Bồ đề, sinh tử thành Niết bàn; màn vô minh đã được giải tỏa thì trí tuệ phát sinh. Rõ được sự sinh - tử là phi sinh phi tử. Cũng còn gọi là nhất niệm vô sinh, tính không tịch diệt, hay là Kim cương đại định.